Tình hình kinh tế - xã hội tỉnh Cà Mau tháng 4 và 4 tháng năm 2026
I. TÌNH HÌNH KINH TẾ
1. Nông, lâm nghiệp và thủy sản
1.1. Nông nghiệp
- Tình hình sản xuất lúa: Tính đến hết tháng 4, tổng diện tích gieo trồng lúa toàn tỉnh ước đạt khoảng 184.734 ha, bằng 98,9% so cùng kỳ. Sản lượng lúa đã thu hoạch ước đạt 1.071.440 tấn, tăng 0,12% so với cùng kỳ. Trong đó: Lúa vụ đông xuân gieo trồng 93.487 ha, tăng 0,02%; sản lượng đạt khoảng 586.811 tấn, tăng 0,46%. Lúa vụ Mùa xuống giống ước đạt 91.247 ha, bằng 97,76% so cùng kỳ. Hiện đã thu hoạch dứt điểm. Sản lượng ước đạt 484.629 tấn, bằng 99,7%.
- Tình hình sản xuất các loại cây trồng hàng năm khác: Diện tích gieo trồng ngô đạt 197,6 ha, sản lượng thu hoạch đạt 988,6 tấn, tăng 1,32% so với cùng kỳ; mía gieo trồng đạt 220,6 ha, sản lượng 13.234,11 tấn, giảm 1,65%; khoai lang 105,1 ha, sản lượng 709,5 tấn, tăng 0,87%; rau, đậu các loại 8.901,76 ha, sản lượng 77.799,1 tấn, giảm 1,65%...
- Tình hình sâu bệnh: Trong tháng ghi nhận một số đối tượng phát sinh gây hại rải rác trên các loại cây trồng chủ lực; tuy nhiên, mức độ gây hại chủ yếu từ nhẹ đến trung bình và cơ bản được kiểm soát. Ngành chuyên môn tiếp tục theo dõi chặt chẽ diễn biến dịch hại, kịp thời hướng dẫn nông dân triển khai các biện pháp phòng, trừ hiệu quả, hạn chế thấp nhất thiệt hại.
1.2. Lâm nghiệp
Công tác quản lý bảo vệ rừng: Lực lượng Kiểm lâm đã phối hợp với các chủ rừng, Công an và Bộ đội Biên phòng tăng cường tuần tra, kiểm tra, quản lý bảo vệ rừng và động vật hoang dã. Tuy nhiên, công tác bảo vệ rừng, nhất là rừng phòng hộ, vẫn gặp nhiều khó khăn do áp lực dân cư sinh sống trong và ven rừng, tình trạng khai thác, chặt phá rừng trái phép còn xảy ra; đời sống người dân còn khó khăn, ý thức chấp hành pháp luật chưa cao. Trong tháng, toàn tỉnh phát hiện và xử lý 08 vụ vi phạm Luật Bảo vệ và phát triển rừng, chủ yếu là khai thác và vận chuyển lâm sản trái pháp luật. Thời gian tới, cần tiếp tục tăng cường tuyên truyền, tuần tra, kiểm soát và hỗ trợ sinh kế cho người dân nhằm nâng cao hiệu quả công tác bảo vệ và phát triển rừng.
1.3. Thủy sản
Tháng 4 năm 2026, tổng sản lượng thủy sản toàn tỉnh ước đạt 112,5 nghìn tấn, tăng 8,07% so với cùng kỳ, thể hiện đà tăng trưởng tích cực ngay từ những tháng đầu năm. Tính chung bốn tháng, sản lượng thủy sản đạt 377,5 nghìn tấn, tăng 6,9% so với cùng kỳ và đạt 28,28% kế hoạch năm. Trong đó:
- Sản lượng khai thác ước đạt 30,5 nghìn tấn, giảm 1,22% so cùng kỳ. Tính chung bốn tháng, tổng sản lượng đạt 124,5 nghìn tấn, tăng 1,93%. Trong đó, tôm đạt 6,9 nghìn tấn, tăng 4,59%; cá và thủy sản khác đạt 117,6 nghìn tấn, tăng 1,78%.
- Sản lượng nuôi trồng thủy sản trong tháng ước đạt 82 nghìn tấn, tăng 11,99% so với cùng kỳ. Lũy kế 4 tháng đạt 253 nghìn tấn, tăng 9,53%. Trong đó, tôm đạt 159 nghìn tấn, tăng 16,44%. Sản lượng cá và thủy sản khác ước đạt 94 nghìn tấn, bằng 99,53% so cùng kỳ.
2. Chỉ số sản xuất ngành công nghiệp
Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp (IIP) 4 tháng năm 2026 ước tính tăng 9,05% so với cùng kỳ. Cụ thể từng ngành công nghiệp như sau:
- Ngành khai khoáng chỉ số sản xuất ước tính bằng 94,7% so cùng kỳ;
- Ngành công nghiệp chế biến chế tạo tăng 11,1%;
- Ngành sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí tăng 2,31%;
- Ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 1,42%.
3. Tài chính, tín dụng
- Thu, chi ngân sách Nhà nước:
+ Tính đến ngày 21/4/2026, công tác thu ngân sách Nhà nước trên địa bàn đạt kết quả tích cực với tổng số thu đạt 4.849,52 tỷ đồng, đạt 42,52% so với dự toán năm. Trong đó, thu nội địa tiếp tục giữ vai trò chủ lực với 4.711,14 tỷ đồng, bằng 42,32% dự toán, phản ánh hoạt động sản xuất, kinh doanh và dịch vụ trên địa bàn cơ bản ổn định. Thu thuế xuất nhập khẩu đạt 138,37 tỷ đồng, đạt 50,69% dự toán, cho thấy hoạt động xuất nhập khẩu có dấu hiệu khởi sắc ngay từ đầu năm.
+ Chi ngân sách địa phương đạt 6.558,74 tỷ đồng, đạt 24,96% dự toán năm, cơ bản đáp ứng yêu cầu chi tiêu theo kế hoạch. Trong đó, chi đầu tư xây dựng cơ bản đạt 1.278,83 tỷ đồng, đạt 19,65% dự toán, tập trung cho các công trình, dự án trọng điểm; chi thường xuyên đạt 5.160,5 tỷ đồng, đạt 27,85% dự toán, đảm bảo kịp thời các nhiệm vụ chi cho hoạt động của bộ máy, an sinh xã hội và các lĩnh vực thiết yếu khác trên địa bàn.
- Hoạt động tín dụng:
+ Tổng nguồn vốn huy động đến cuối tháng ước đạt 94.500 tỷ đồng, tăng 2,46% so với cuối năm 2025. Trong đó, tiền gửi đạt 93.150 tỷ đồng, tăng 2,32%, cho thấy niềm tin của người dân và doanh nghiệp đối với hệ thống ngân hàng tiếp tục được củng cố. Bên cạnh đó, phát hành giấy tờ có giá đạt 1.350 tỷ đồng, tăng 13,16%, góp phần đa dạng hóa hình thức huy động vốn và nâng cao khả năng cân đối nguồn vốn của các tổ chức tín dụng.
+ Về hoạt động tín dụng, dư nợ cho vay đến cuối tháng 4/2026 ước đạt 126.000 tỷ đồng, tăng 1,71% so với cuối năm 2025. Trong đó, dư nợ ngắn hạn đạt 84.500 tỷ đồng, cơ bản ổn định; dư nợ trung và dài hạn đạt 41.500 tỷ đồng, tăng 4,79%.
4. Thương mại - dịch vụ, giá cả
4.1. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng
Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng trên địa bàn tỉnh trong tháng ước đạt 13.817,54 tỷ đồng, tăng 21,91% so với cùng kỳ. Lũy kế 4 tháng, tổng mức đạt 52.457,65 tỷ đồng, tăng 17,49%. Trong đó, doanh thu bán lẻ hàng hóa đạt 41.297,86 tỷ đồng, chiếm 78,73% tổng mức và tăng 19,06% so với cùng kỳ; doanh thu dịch vụ lưu trú và ăn uống đạt 5.154,73 tỷ đồng, tăng 13,92%; du lịch lữ hành doanh thu đạt 85,31 tỷ đồng, tăng 49,86%. Doanh thu dịch vụ khác đạt 5.919,74 tỷ đồng, tăng 10%.
4.2. Giá cả
Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 4/2026 tăng 0,92% so tháng trước và tăng 5,97% so cùng kỳ. Phần lớn các nhóm hàng hóa và dịch vụ trong rổ tính CPI đều ghi nhận mức tăng giá nhất định. Cụ thể:
- Chỉ số giá hàng ăn uống và dịch vụ ăn uống tăng 0,91% so tháng trước và tăng 4,37% so cùng kỳ.
- Chỉ số giá các mặt hàng phi lương thực, thực phẩm như hàng may mặc, mũ nón, giày dép tăng lần lượt 0,27% và 4,91%; nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 3,21% và tăng 8,74%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,49% và tăng 3,15%; văn hóa, giải trí và du lịch tăng 0,481% và tăng 3,87%;…
Chỉ số giá vàng tháng 4/2026 giảm 7,43% so tháng trước nhưng tăng 51,2% so cùng kỳ. Chỉ số giá đô la Mỹ trong tháng tăng 0,17% so tháng trước và tăng 1,54% so cùng kỳ.
5. Hoạt động giao thông vận tải
Lũy kế bốn tháng đầu năm, vận tải hành khách ước đạt 89,39 triệu lượt khách, tăng 24,12% so với cùng kỳ; khối lượng hành khách luân chuyển đạt 4.186,86 triệu lượt khách.km, tăng 27,81%.
Khối lượng hàng hóa vận chuyển đạt 5,77 triệu tấn, tăng 27,28% so với cùng kỳ; khối lượng hàng hóa luân chuyển đạt 736,69 triệu tấn.km, tăng 29,93%.
II. HOẠT ĐỘNG VĂN HÓA - XÃ HỘI
1. Giáo dục
Tính đến cuối tháng 4/2026, toàn tỉnh đào tạo và bồi dưỡng khoảng 1.726 người; trong đó: trình độ cao đẳng 03 người, trung cấp 54 người, sơ cấp 109 người, đào tạo dưới 3 tháng và thường xuyên 1.560 người. Năm 2026 dự kiến tổ chức đào tạo, bồi dưỡng khoảng 33.700 học viên, góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực phục vụ phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh.
Hiện nay, toàn tỉnh có 633/730 trường đạt chuẩn quốc gia, đạt tỷ lệ 86,71%. Trong đó: bậc mầm non có 183/196 trường (93,36%), tiểu học 271/308 trường (87,98%), trung học cơ sở 159/174 trường (91,37%) và trung học phổ thông 20/52 trường (38,46%). Đối với hệ thống trường ngoài công lập, hiện có 3/25 trường đạt chuẩn quốc gia, chiếm 12%. Về cơ sở vật chất, tỷ lệ trường học có hệ thống nước sạch để uống và nhà vệ sinh đạt chuẩn đạt 71%, tương đương 99,58% so với chỉ tiêu được giao.
2. Công tác việc làm, an sinh - xã hội
Trong tháng, toàn tỉnh đã giải quyết việc làm cho 3.853 người. Lũy kế 4 tháng đã giải quyết việc làm cho 13.095 người, đạt 22,2% kế hoạch, trong đó giải quyết việc làm trong tỉnh 4.978 người, ngoài tỉnh 7.633 người, lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng 484 người. Kết quả này cho thấy sự nỗ lực của các ngành, các cấp trong việc triển khai các chương trình, đề án giải quyết việc làm, tuy nhiên cũng đặt ra yêu cầu cần tiếp tục tăng cường các giải pháp trong thời gian tới nhằm hoàn thành chỉ tiêu kế hoạch năm.
Công tác đưa lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng tiếp tục được chú trọng triển khai. Trong tháng, toàn tỉnh đã đưa 241 lao động đi làm việc ở nước ngoài; lũy kế từ đầu năm đạt 484 lao động, tương đương 48,4% kế hoạch năm, cho thấy tiến độ thực hiện đang được duy trì khá tích cực.
3. Hoạt động văn hóa, thể dục, thể thao
Trong tháng, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã trình thẩm định Đề án quản lý, bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa phi vật thể Nghệ thuật Đờn ca tài tử Nam Bộ trên địa bàn tỉnh Cà Mau giai đoạn 2026 - 2030; trình Ủy ban nhân dân tỉnh phê duyệt chủ trương đầu tư công trình tu sửa cấp thiết Di tích Khảo cổ Vĩnh Hưng. Đồng thời, ban hành Kế hoạch tổ chức các hoạt động kỷ niệm các ngày lễ lớn và sự kiện lịch sử quan trọng năm 2026; Kế hoạch tổ chức các hoạt động kỷ niệm 51 năm Ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước (30/4/1975 - 30/4/2026) và 140 năm Ngày Quốc tế Lao động (01/5/1886 - 01/5/2026); xây dựng Kế hoạch tổ chức Lễ công bố và trao giải Cuộc thi thiết kế Logo mới tỉnh Cà Mau.
Về công tác bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa tiếp tục được quan tâm triển khai. Sở đã đề nghị thẩm định hồ sơ ban hành Quyết định Quy chế quản lý, bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa trên địa bàn tỉnh; xin chủ trương tu bổ di tích lịch sử Địa điểm nổi dậy của nông dân Ninh Thạnh Lợi (1927); báo cáo kết quả kiểm tra, rà soát và đề xuất công nhận Cây Di sản. Đồng thời, xây dựng Kế hoạch điều tra, rà soát, thu thập thông tin về liệt sĩ, Mẹ Việt Nam anh hùng, Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân, các bậc tiền hiền, tiền bối cách mạng qua các thời kỳ trên địa bàn tỉnh, gắn với xây dựng đề cương trưng bày tại Đền tưởng niệm các anh hùng liệt sĩ và Người có công của tỉnh; lập hồ sơ đề nghị xác nhận tình trạng xuống cấp đối với di tích lịch sử Quốc gia đặc biệt Căn cứ Cái Chanh. Bên cạnh đó, hoạt động trưng bày, tuyên truyền, giáo dục truyền thống tiếp tục được đẩy mạnh. Trong tháng, đã tổ chức 08 cuộc trưng bày chuyên đề, kết hợp 11 cuộc hoạt động ngoại khóa, thu hút trên 41,5 nghìn lượt khách tham gia.
4. Tai nạn giao thông (từ ngày 15/3/2026 đến ngày 14/4/2026)
Trong tháng, toàn tỉnh xảy ra 09 vụ tai nạn giao thông, tất cả đều là tai nạn đường bộ, làm chết 07 người và bị thương 03 người. So với tháng trước, số vụ tai nạn tăng 01 vụ, số người chết giảm 01 người. Diễn biến này cho thấy tình hình tai nạn giao thông vẫn tiềm ẩn nhiều yếu tố phức tạp, cần tiếp tục tăng cường các biện pháp quản lý, kiểm tra và nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của người dân trong thời gian tới.
5. Y tế
Công tác phòng, chống dịch bệnh: Từ đầu năm đến nay, tình hình một số bệnh truyền nhiễm có biến động so với cùng kỳ năm trước, tuy nhiên nhìn chung vẫn được kiểm soát. Cụ thể: Bệnh não mô cầu ghi nhận 03 trường hợp mắc bệnh, trong đó có 01 trường hợp tử vong, cho thấy mức độ nguy hiểm của bệnh và cần tăng cường các biện pháp giám sát, phòng, chống kịp thời; Bệnh sốt xuất huyết ghi nhận 183 ca mắc, tăng mạnh so với cùng kỳ (31 ca); Bệnh tay - chân - miệng ghi nhận 309 ca mắc, tăng mạnh so với cùng kỳ (33 ca), không có trường hợp tử vong; Thủy đậu ghi nhận 18 ca bệnh trong tháng, giảm 01 ca so với cùng kỳ; Tiêu chảy ghi nhận 100 ca, giảm 64,2% so với cùng kỳ, không có trường hợp tử vong.
Công tác phòng, chống HIV/AIDS: Trong tháng, trên địa bàn tỉnh ghi nhận 23 ca nhiễm HIV mới (tất cả đều trên 16 tuổi), nâng tổng số người nhiễm HIV được phát hiện từ trước đến nay lên 8.740 trường hợp. Trong tháng có 06 ca tử vong do HIV/AIDS; số người nhiễm HIV còn sống lũy tích là 6.559 ca. Nhìn chung, tình hình nhiễm HIV trên địa bàn tỉnh vẫn còn diễn biến phức tạp, đòi hỏi các ngành, các cấp tiếp tục duy trì và tăng cường các biện pháp can thiệp, dự phòng, quản lý và điều trị lâu dài.
Trên đây là những nét cơ bản về tình hình kinh tế - xã hội tháng 4 và 4 tháng năm 2026 tỉnh Cà Mau./.