|
BCĐ TĐT DS & NHÀ Ở
TỈNH CÀ MAU
Số: 05/ KH-BCĐ
|
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Cà Mau, ngày 31 tháng 10 năm 2008
|
KẾ HOẠCH
TIẾN HÀNH TỔNG ĐIỀU TRA DÂN SỐ VÀ NHÀ Ở
01/04/2009 - TỈNH CÀ MAU
Căn cứ phương án Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 01/04/2009 do Ban chỉ đạo (viết tắt là BCĐ) Tổng điều tra (viết tắt là TĐT) dân số và nhà ở Trung ương ban hành theo quyết định số 09/QĐ-BCĐTW ngày 10 tháng 10 năm 2008 của BCĐ TĐT Dân số và Nhà ở Trung ương. BCĐ TĐT dân số và nhà ở tỉnh Cà Mau lập kế hoạch thực hiện TĐT trong tỉnh như sau:
I. MỤC ĐÍCH TỔNG ĐIỀU TRA
Tổng điều tra dân số và nhà ở vào thời điểm 0 giờ ngày 01/04/2009 thu thập những thông tin cơ bản về dân số và nhà ở nhằm:
- Phục vụ công tác nghiên cứu, phân tích và dự báo quá trình phát triển dân số và nhà ở trên phạm vi cả nước cũng như từng địa phương.
- Đáp ứng nhu cầu thông tin đánh giá tình hình thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội thời kỳ 2001 - 2010, xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 2011-2020 và giám sát thực hiện mục tiêu phát triển Thiên niên kỷ của Liên hợp quốc mà Chính phủ Việt Nam đã cam kết.
- Cung cấp các số liệu cơ bản về dân số và nhà ở của các đơn vị hành chính nhỏ nhất, bổ sung nguồn số liệu cho các cuộc điều tra thường xuyên, cung cấp dàn mẫu và cơ sở dữ liệu dân số và nhà ở cho các mục tiêu nghiên cứu khác trong 10 năm sau cuộc Tổng điều tra.
II. ĐỐI TƯỢNG VÀ ĐƠN VỊ ĐIỀU TRA
1. Đối tượng điều tra
Tổng điều tra dân số và nhà ở được tiến hành trên phạm vi toàn tỉnh, bao gồm:
- Tất cả người Việt Nam thường xuyên cư trú trên lãnh thổ tỉnh Cà Mau có đến thời điểm điều tra, người Việt Nam được cơ quan có thẩm quyền cho phép xuất cảnh ra nước ngoài trong thời gian quy định. Cụ thể:
+ Những người là nhân khẩu thực tế thường trú tại các hộ dân cư, kể cả số học sinh phổ thông đi trọ học xa gia đình;
+ Những người làm hợp đồng (ngắn hạn, dài hạn) cho quân đội nhưng đang sống tại các khu dân cư của xã/phường/thị trấn quản lý (tức sống ngoài doanh trại hoặc ngoài các khu vực do quân đội quản lý);
+ Những người đang làm hợp đồng ngắn hạn, tạm tuyển, lao động thời vụ của ngành công an nhưng đang sống tại các khu dân cư của xã/phường/thị trấn quản lý;
+ Những nhân khẩu đặc thù, bao gồm:
(1) Những người sống trong các nhà dưỡng lão, trại trẻ mồ côi, làng trẻ SOS, các trường, lớp học tình thương, trại phong/hủi, trung trâm/trường/trại và các cơ sở xã hội khác đóng tập trung trên phạm vi ranh giới của xã/phường/thị trấn do ngành Lao động – Thương binh và Xã hội trực tiếp quản lý;
(2) Học sinh đang ở tập trung (không kể số học sinh phổ thông đi trọ học) trong các trường thanh thiếu niên, trường dân tộc nội trú, trường vừa học vừa làm, trường câm/điếc, các tu sỹ trong các tu viện, các nhà sư hoặc tu sỹ sống trong các nhà chung, nhà chùa;
(3) Học sinh các trường dạy nghề, trung học chuyên nghiệp cao đẳng, đại học và các trường nội trú hiện đang thực tế thường trú trong ký túc xá;
(4) Những người lang thang cơ nhỡ, không có nhà ở và những người sống bằng nghề trên mặt nước, những bệnh nhân không nơi nương tựa đang điều trị nội trú trong các bệnh viện (không có bất kỳ một nơi thường trú nào khác).
- Các trường hợp chết (của hộ) đã xảy ra từ ngày 01 tết Mậu Tý (ngày 07/02/2008 theo dương lịch) đến ngày 31/03/2009.
- Nhà ở và một số tiện nghi sinh hoạt cơ bản của hộ dân cư.
2. Lưu ý: các đối tượng sau đây không phải là đối tượng điều tra:
a. Những đối tượng thuộc trách nhiệm BCĐ TĐT Bộ Quốc phòng điều tra
+ Quân nhân (sỹ quan chuyên nghiệp, hạ sỹ quan và binh sỹ) và công nhân viên quốc phòng, bao gồm: số thường xuyên về ăn ở với gia đình tại nơi cư trú, số đang sống trong doanh trại hoặc trong các khu vực do quân đội quản lý.
+ Quân nhân, công nhân viên quốc phòng đang học tập trong các trường đào tạo do quân đội và ngoài quân đội quản lý, số người đang được quân đội cử đi công tác, học tập,.. ở nước ngoài.
+ Những người làm hợp đồng (ngắn hạn, dài hạn) đang sinh sống và làm việc trong các doanh trại hoặc các khu vực do quân đội quản lý.
+ Phạm nhân trong các trại giam, trại cải tạo, cải huấn do quân đội quản lý, kể cả những người bị quân đội tạm giam (đã được Viện Kiểm sát quân sự phê chuẩn lệnh bắt giam).
b. Những đối tượng thuộc trách nhiệm BCĐ TĐT Bộ Công an điều tra
+ Sỹ quan, hạ sỹ quan, chiến sỹ, công nhân, viên chức trong công an nhân dân thuộc biên chế ngành Công an; bao gồm: những người hàng ngày về ăn ở tại gia đình nơi cư trú, những người sống trong doanh trại hoặc trong các khu vực do công an quản lý. Riêng số người làm hợp đồng ngắn hạn, tạm tuyển, lao động thời vụ của ngành công an sẽ do BCĐ xã/phường/thị trấn điều tra.
+ Sỹ quan, hạ sỹ quan, chiến sỹ, công nhân, viên chức trong công an nhân dân đang được ngành Công an cử đi học tập trong các trường đào tạo do ngành Công an và ngoài ngành Công an quản lý, số người đang được ngành công an cử đi công tác, học tập,.. ở nước ngoài.
+ Phạm nhân trong các trại giam, trại cải tạo, cơ sở giáo dục, trường giáo dưỡng do ngành Công an quản lý.
+ Bị can đang bị tạm giam tại các nhà tạm giam, tạm giữ do ngành Công an quản lý.
Đơn vị ghi thông tin định danh: theo địa chỉ báo tin hoặc theo nơi đang cư trú xã/phường/thị trấn.
3. Đơn vị điều tra
Đơn vị điều tra là hộ. Hộ bao gồm một người ở riêng hay hoặc một nhóm người ở chung và ăn chung. Đối với hộ có từ 2 người trở lên, các thành viên trong hộ có thể có hay không có quỹ thu chi chung; có hoặc không có mối quan hệ ruột thịt, hôn nhân hay nuôi dưỡng; hoặc kết hợp cả hai.
4. Người cung cấp thông tin
Chủ hộ là người cung cấp thông tin chính. Đối với những thông tin mà chủ hộ không nắm chắc, điều tra viên phải phỏng vấn trực tiếp đối tượng điều tra.
Riêng các thông tin về lao động - việc làm, điều tra viên cần phỏng vấn trực tiếp đối tượng điều tra từ 15 tuổi trở lên; các câu hỏi về sinh đẻ, điều tra viên phỏng vấn trực tiếp phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ (từ 15 đến 49 tuổi) để xác định thông tin nếu chủ hộ không nắm chắc chắn. Đối với các thông tin về nhà ở, điều tra viên phải phỏng vấn trực tiếp người cung cấp thông tin và kết hợp quan sát trực tiếp để xác định.
III. NỘI DUNG ĐIỀU TRA
Nội dung điều tra được bố trí trên hai loại phiếu điều tra: phiếu điều tra toàn bộ (phiếu ngắn) và phiếu điều tra mẫu (phiếu dài).
1. Nội dung điều tra toàn bộ
a. Về dân số:
1. Các thông tin cá nhân (họ và tên, giới tính, tháng năm sinh/tuổi);
2. Quan hệ với chủ hộ ;
3. Tình hình đi học hiện nay;
4. Trình độ học vấn và trình độ chuyên môn kỹ thuật;
5. Dân tộc và tôn giáo ;
6. Tình trạng biết đọc, biết viết;
b. Về nhà ở của nhân dân:
1. Tình trạng nhà ở hiện tại ;
2. Kết cấu nhà và loại vật liệu xây dựng chính ;
3. Quy mô diện tích nhà ở ;
4. Năm đưa vào sử dụng.
2. Nội dung điều tra chọn mẫu
Ngoài các câu hỏi như trong phiếu điều tra toàn bộ, phiếu điều tra mẫu còn có thêm các thông tin sau đây :
a. Về dân số :
1. Tình trạng khuyết tật ;
2. Tình Trạng hôn nhân ;
3. Nơi thường trú cách đây 5 năm ;
4. Tình trạng hoạt động kinh tế trong 7 ngày qua ;
b. Về tình hình sinh đẻ của phụ nữ 15-49 tuổi:
1. Tình hình sinh con;
2. Số con đã sinh, số con còn sống và số con đã chết;
3. Tháng, năm sinh của lần sinh gần nhất;
c. Thông tin về người chết
1. Tình hình tử vong của hộ ;
2. Thông tin cá nhân của người chết;
3. Nguyên nhân chết và chết do thai sản ;
d. Thông tin về nhà ở :
1. Tình hình sử dụng phòng ở ;
2. Tình trạng sở hữu nhà ở;
3. Loại nhiên liệu chính để thắp sáng và nấu ăn ;
4. Nguồn nước chính sử dụng để ăn uống;
5. Loại hố xí đang sử dụng;
6. Một số tiện nghi sinh hoạt cơ bản của hộ dân cư .
IV. THỜI ĐIỂM, THỜI GIAN TỔNG ĐIỀU TRA, PHƯƠNG PHÁP ĐIỀU TRA VÀ THU THẬP THÔNG TIN
1. Thời điểm và thời gian điều tra
- Thời điểm điều tra là 0 giờ ngày 01 tháng 4 năm 2009.
- Thời gian thu thập thông tin tại địa bàn bắt đầu từ 7 giờ sáng ngày 01 tháng 4 và kết thúc chậm nhất vào ngày 20 tháng 4 năm 2009.
Ban chỉ đạo xã/phường/thị trấn cần tổ chức lực lượng để điều tra những người lang thang, cơ nhỡ đang có mặt trong phạm vi xã/phường/thị trấn mình ngày đầu tiên (01/04/2009).
2. Phương pháp điều tra và thu thập thông tin
Tổng điều tra dân số và nhà ở là cuộc điều tra toàn bộ. Tuy nhiên, nhằm đáp ứng nhu cầu thông tin của các đối tượng sử dụng khác nhau, cuộc TĐT này còn sử dụng phương pháp điều tra chọn mẫu.
Để nâng cao hiệu quả và độ tin cậy của số liệu Tổng điều tra, quy mô mẫu là 15% tổng số địa bàn điều tra ở các huyện, thành phố.
Thu thập thông tin sẽ được thực hiện bằng phương pháp phỏng vấn trực tiếp. Điều tra viên phải đến từng hộ để hỏi người cung cấp thông tin và ghi đầy đủ các câu trả lời vào phiếu điều tra. Đối với những nhân khẩu đặc thù, BCĐ xã/phường/thị trấn bố trí lực lượng và thời gian thích hợp đến phỏng vấn từng người để ghi vào phiếu điều tra(không thu thập các thông tin về nhà ở cho nhóm “nhân khẩu đặc thù” – xem khái niệm ở mục II.1).
Đối với những người tạm vắng trong suốt thời gian điều tra, điều tra viên có thể hỏi những người khác trong hộ, hoặc dựa vào những tài liệu do người thân hoặc chính quyền cung cấp để ghi phiếu điều tra. Khi thu thập các thông tin về nhà ở, điều tra viên hỏi người cung cấp thông tin kết hợp quan sát trực tiếp ngôi nhà/căn hộ để ghi kết quả vào phiếu điều tra.
V. CÁC BƯỚC TIẾN HÀNH
Quá trình Tổng điều tra dân số và nhà ở sẽ được tiến hành tuần tự theo các bước sau đây:
* Bước chuẩn bị
Công tác chuẩn bị tiến hành ở các địa phương từ tháng 8/2008 đến cuối tháng 3/2009, gồm các công việc chính sau đây:
1. Thành lập Ban chỉ đạo tổng điều tra dân số và nhà ở cấp huyện, thành phố; Ban chỉ đạo tổng điều tra dân số và nhà ở cấp xã, phường, thị trấn.
2. Rà soát và phân định ranh giới lãnh thổ giữa các xã/phường/thị trấn, huyện/thành phố nhằm phát hiện những nơi có dân cư trú thường xuyên nhưng chưa rõ thuộc đơn vị hành chính nào quản lý, để phục vụ công tác vẽ sơ đồ, lập bảng kê và phân công trách nhiệm điều tra.
3. Phân định địa bàn điều tra, vẽ sơ đồ và lập bảng kê số nhà, số hộ, số người của địa bàn điều tra.
+ Địa bàn điều tra :
Nói chung, địa bàn điều tra là ấp/khóm/tổ dân phố: quy mô địa bàn bình quân khoảng từ 100 hộ đến 150 hộ. Ở những địa phương có nhiều ấp/khóm/tổ dân phố mà quy mô quá nhỏ dưới 70 hộ thì phải ghép 2 ấp/tổ dân phố liền kề thành một địa bàn điều tra. Đối với ấp/khóm/tổ dân phố tuy quy mô dưới 100 hộ, nhưng có vị trí địa lý không thuận tiện cho việc ghép với ấp/khóm/tổ dân phố gần nhất thì để một địa bàn riêng (không ghép với ấp/khóm/tổ dân phố khác). Ngược lại nếu ấp/khóm/tổ dân phố có quy mô lớn (trên 150 hộ) nhưng nếu dưới 250 hộ mà địa bàn không bị chia cắt, đi lại không khó khăn, thì để một địa bàn riêng mà không cần chia tách.
Trong trường hợp khác, việc ghép những ấp/khóm/tổ dân phố liền kề hoặc chia tách ấp/khóm/tổ dân phố để tạo thành (các) địa bàn điều tra phải đảm bảo ranh giới địa bàn điều tra rõ ràng hoặc tương đối rõ ràng, với nguyên tắc không được ghép một phần ấp/khóm/tổ dân phố này với một phần hoặc trọn một ấp/khóm/tổ dân phố khác để tạo thành một địa bàn điều tra.
+ Sơ đồ địa bàn điều tra và bảng kê số nhà, số hộ, số người là công cụ quan trọng giúp điều tra viên (viết tắt là ĐTV) tiếp cận hộ nhanh chóng và chính xác; giúp tổ trưởng quản lý và giám sát công việc hàng ngày của ĐTV, giúp BCĐ cấp xã quản lý công tác Tổng điều tra. Sau khi phân chia địa bàn, BCĐ cấp xã phải :
- Vẽ một sơ đồ nền cho cả xã/phường/thị trấn.
- Mỗi địa bàn điều tra được vẽ một sơ đồ chi tiết và lập bảng kê số nhà, số hộ, số người.
Đối với các xã thuộc Chương trình 135 và các xã đặc biệt khó khăn khác sơ đồ địa bàn điều tra chỉ cần thể hiện đường ranh giới và các vật định hướng mà không phải vẽ các ngôi nhà trong địa bàn. BCĐ huyện, thành phố phải báo danh sách cụ thể các xã này lên BCĐ tỉnh.
4. Tuyển chọn cán bộ
4.1 Tuyển chọn cán bộ vẽ sơ đồ và lập bảng kê
Cán bộ vẽ sơ đồ nên chọn từ những cán bộ địa chính của cấp xã, trong đó riêng “sơ đồ nền” của xã/phường/thị trấn phải giao cho cán bộ địa chính thực hiện. Cán bộ lập bảng kê nên là người địa phương am hiểu địa hình và phân bố dân cư của địa bàn điều tra. Căn cứ kết quả phân chia địa bàn điều tra ở trên, BCĐ cấp xã tuyển chọn cán bộ vẽ sơ đồ và lập bảng kê.
4.2 Tuyển chọn ĐTV và tổ trưởng điều tra
ĐTV là lực lượng trực tiếp thực hiện cuộc điều tra. Vì vậy, yêu cầu phải chọn những người có tinh thần trách nhiệm cao, viết chữ và số rõ ràng, có trình độ học vấn từ hết lớp 10/12, tuổi đời tốt nhất 25 đến 50. Để ngăn ngừa hiện tượng sao chép từ sổ sách vào phiếu điều tra, BCĐ xã/phường/thị trấn không nên sử dụng cán bộ đang quản lý tài liệu đăng ký (hộ khẩu, hộ tịch, ghi chép ban đầu về dân số) làm ĐTV. Tùy theo điều kiện địa lý và quy mô cụ thể của mỗi địa bàn trung bình của từng địa bàn mà bố trí ĐTV phù hợp. Cụ thể:
+ Địa bàn điều tra chọn mẫu : 01 ĐTV phụ trách 01 địa bàn.
+ Địa bàn điều tra toàn bộ: 01 ĐTV phụ trách 02 địa bàn.
Tổ trưởng điều tra là một lực lượng trực tiếp quản lý công việc của ĐTV. Việc tuyển chọn tổ trưởng là người có khả năng tổ chức làm việc theo nhóm và phải dành 100% thời gian để quản lý điều tra viên trong thời gian điều tra tại địa bàn. Quy định một tổ trưởng phụ trách 4 điều tra viên. Để tăng tính chủ động, cần tuyển chọn và tập huấn thêm 10% số ĐTV và 3% tổ trưởng dự phòng.
4.3 Tuyển chọn giám sát viên
Ngoài Tổ trưởng điều tra còn có giám sát viên cấp tỉnh và cấp huyện với nhiệm vụ chính là giám sát hoạt động của tổ trưởng và ĐTV và hổ trợ chuyên môn cho Ban chỉ đạo cấp dưới.
Chủ trương chung là sử dụng lực lượng tại chỗ làm ĐTV. Nhưng điều kiện địa bàn không có đủ người theo tiêu chuẩn làm ĐTV, thì ta nên tuyển ĐTV từ địa bàn khác sang làm ĐTV. Nếu địa bàn có người dân tộc không nói được tiếng phổ thông mà ĐTV không hiểu tiếng dân tộc, thì được thuê người dẫn đường kiêm phiên dịch giúp ĐTV.
5. Tài liệu Tổng điều tra
Phiếu điều tra và các loại tài liệu sẽ được cung cấp kịp thời, đầy đủ đến đến Ban chỉ đạo các cấp.
6. Tập huấn luyện nghiệp vụ điều tra
a. Tập huấn công tác quản lý Tổng điều tra cho BCĐ các cấp:
BCĐ cấp tỉnh tập huấn cho BCĐ cấp huyện, thành phố và BCĐ cấp huyện, thành phố tập huấn cho BCĐ cấp xã. Thời gian tập huấn mỗi khoá là 1 ngày.
b. Tập huấn vẽ sơ đồ, lập bảng kê số nhà, số hộ, số người:
Giảng viên cấp tỉnh trực tiếp tập huấn cho cán bộ vẽ sơ đồ/ lập bảng kê. Thời gian tập huấn là 3 ngày.
c. Tập huấn điều tra ghi phiếu, bảo quản, bàn giao tài liệu và tổng hợp kết quả sơ bộ :
· Giảng viên cấp tỉnh tập huấn cho giảng viên cho cấp huyện.
· Giảng viên cấp huyện tập huấn cho tổ trưởng và ĐTV.
Thời gian tập huấn cấp tỉnh là 6 ngày/khoá, cấp huyện là 8 ngày/khoá.
d. Tập huấn công tác kiểm tra, ghi mã số: giảng viên cấp tỉnh tập huấn cho lực lượng ghi mã và xử lý số liệu. Thời gian tập huấn là 3 ngày.
7. Tổ chức tuyên truyền sâu rộng trong nhân dân về mục đích, ý nghĩa của Tổng điều tra và yêu cầu hợp tác của người dân với cán bộ điều tra.
BCĐ các cấp, các ngành huy động tất cả các hình thức và phương tiện tuyên truyền hiện có, các cơ quan thông tin, các tổ chức Đảng và Đoàn thể quần chúng để thực hiện tuyên truyền sâu rộng trong nhân dân tích cực hưởng ứng cuộc Tổng điều tra.
8. Tổng rà soát, cập nhật sơ đồ và bảng kê của từng địa bàn điều tra nhằm điều chỉnh những biến động về số nhà, số hộ, số nhân khẩu đã xảy ra trong thời gian từ khi vẽ sơ đồ, lập bảng kê đến trước thời điểm điều tra.
Trên cơ sở ranh giới đã xác định trên sơ đồ, cán bộ làm công tác cập nhật sơ đồ, bảng kê phải đến từng nhà để đối chiếu thực tế nhằm phát hiện những ngôi nhà mới xây thuộc phạm vi địa bàn trước đây chưa có người ở nay đã có người đến ở nhưng chưa được thể hiện trên sơ đồ, những ngôi nhà trước đây có người ở nhưng hiện không có người ở hoặc đã bị phá huỷ… trên cơ sở đó, tiến hành điều chỉnh sơ đồ địa bàn điều tra.
Sau khi cập nhật, căn cứ vào những ngôi nhà có người ở đã được thể hiện trên sơ đồ, tiến hành hiệu chỉnh bảng kê cho phù hợp với thực tế. Trong 3 ngày trước thời điểm điều tra, ĐTV và tổ trưởng thực hiện rà soát lần cuối sơ đồ, bảng kê nhằm bổ sung đầy đủ số nhà, số hộ, số nhân khẩu sát đến thời điểm điều tra.
9. Bảo vệ an toàn cho cuộc Tổng điều tra
BCĐ các cấp có kế hoạch bảo vệ an toàn cho cuộc Tổng điều tra, phải đặc biệt chú ý những địa bàn có nhiều chủ hộ không hợp tác với ĐTV hoặc đã có những hiện tượng phức tạp trong quá trình giải quyết các chính sách ở địa phương. Cần bố trí nơi bảo quản, lưu giữ tài liệu khô ráo và an toàn; có phương tiện vận chuyển tài liệu… tuyệt đối không để xảy ra tình trạng thất lạc, mất mát tài liệu điều tra.
10. Đảm bảo hệ thống thông tin liên lạc thông suốt giữa các cấp phục vụ cho công tác chỉ đạo Tổng điều tra, đặc biệt chú ý những vùng sâu, vùng xa, điều kiện thông tin liên lạc có nhiều khó khăn. BCĐ các cấp bố trí phương tiện đi lại để phục vụ cho công tác chỉ đạo điều tra và báo cáo.
* Thu thập thông tin và giám sát điều tra (từ ngày 29/3 đến ngày 20/4/2009)
Bước thu thập thông tin và giám sát điều tra được tiến hành theo trình tự sau:
1. Soát xét lại toàn bộ công tác chuẩn bị (từ ngày 29 đến 31/3/2009).
- Trong 3 ngày này, Ban chỉ đạo điều tra các xã/phường/thị trấn kiểm tra lại toàn bộ các địa bàn điều tra về số lượng và phân công ĐTV, tổ trưởng điều tra, về phương tiện (phiếu điều tra, sổ tay hướng dẫn, bút, cặp đựng tài liệu..) nhằm kịp thời bổ khuyết những thiếu sót (nếu có).
- ĐTV phải đến từng hộ trong địa bàn điều tra của mình để thăm hỏi và hẹn ngày đến điều tra.
2. Công tác điều tra
Tiến hành điều tra ở tất cả các địa phương từ 7 giờ sáng ngày 1/4 và kết thúc chậm nhất là hết ngày 20/4/2009.
Trong thời gian điều tra, quy định mỗi ĐTV phải hoàn thành định mức điều tra theo quy định. Phiếu điều tra toàn bộ (gọi là phiếu ngắn) một ĐTV chỉ thực hiện trong ngày là 14 phiếu, phiếu điều tra mẫu (gọi là phiếu dài) một ĐTV thực hiện trong ngày 6 phiếu. Tuy nhiên, trong ngày đầu tiên phải khống chế không quá 6 phiếu/ngày/ĐTV đối với phiếu điều tra toàn bộ và không quá 4 phiếu/ngày/ĐTV đối với phiếu điều tra chọn mẫu, nhằm phát hiện kịp thời và giúp ĐTV khắc phục các sai sót xảy ra, nhất là các lỗi hệ thống trong việc áp dụng quá trình phỏng vấn.
Hàng ngày BCĐ các cấp cử người trực, báo cáo BCĐ cấp trên trực tiếp những vấn đề vướng mắc phát sinh để xin ý kiến chỉ đạo, bảo đảm yêu cầu chỉ đạo thống nhất trong cả tỉnh. Định kỳ 3 ngày/lần, BCĐ các cấp phải báo cáo BCĐ cấp trên trực tiếp về tiến độ điều tra thuộc phạm vi mình phụ trách.
3. Công tác giám sát điều tra
+ Đối với tổ trưởng:
Hàng ngày Tổ trưởng phải kiểm tra từng ĐTV để kịp thời phát hiện và uốn nắn, sửa chữa ngay những sai sót. Công tác kiểm tra, giám sát của Tổ trưởng như sau :
- Quan sát phỏng vấn ít nhất 1 hộ/ngày/ĐTV để xem xét: cách đặt câu hỏi, thực hiện quy trình phỏng vấn, cách ghi câu trả lời vào phiếu điều tra.
- Kiểm tra ngẫu nhiên một số hộ để thẩm định ĐTV có đến hộ để phỏng vấn không, số nhân khẩu thực tế thường trú đã ghi trên phiếu có chính xác không.
- Kiểm tra toàn bộ phiếu mà các ĐTV trong tổ hoàn thành trong ngày để phát hiện các lỗi logic, ghi phiếu có đầy đủ và rõ ràng không.
Hàng ngày Tổ trưởng phải kịp thời báo cáo với BCĐ xã/phường/thị trấn về những trường hợp vướng mắc, khó khăn mới phát sinh để được giải quyết dứt điểm.
+ Đối với BCĐ các cấp:
- Dưới sự chỉ đạo tập trung của BCĐ cấp huyện, thành phố, các thành viên BCĐ cấp xã và cấp huyện phối hợp để phân công từng thành viên giám sát chặt chẽ các tổ trưởng điều tra. Tùy theo số lượng Tổ trưởng của huyện, thành phố, mỗi thành viên BCĐ cấp huyện hoặc cấp xã được cử giám sát từ 6 đến 10 tổ trưởng, cần đặc biệt chú ý những địa bàn có địa hình khó khăn phức tạp và những tổ điều tra có nhân lực yếu.
- Những địa bàn phức tạp về an ninh chính trị hoặc có nhiều người thường đi vắng dài ngày (như nhóm người du canh du cư, người làm nghề ra khơi đánh bắt hải sản…) BCĐ cấp huyện, thành phố và cấp xã cần nắm chắc tình hình, lập kế hoạch cử ĐTV và tổ trưởng đến điều tra các đối tượng này trước thời điểm quy định vào thời gian thích hợp.
- Hàng ngày, đại diện của BCĐ cấp huyện, thành phố và cấp xã phải phân công thành viên tham dự các cuộc họp tổ điều tra để giải quyết kịp thời những vướng mắc về tổ chức chỉ đạo và nghiệp vụ điều tra. Tất cả các trường hợp gây khó khăn cho ĐTV phải được BCĐ xử lý kịp thời để bảo đảm an toàn cho cuộc Tổng điều tra.
4. Công tác phúc tra:
Sau khi phiếu đã được bàn giao lên cấp tỉnh, tiến hành phúc tra để xác định mức độ trùng, sót về hộ và nhân khẩu. Công tác phúc tra được thực hiện theo kế hoạch riêng.
* Bàn giao tài liệu, tổng hợp sơ bộ ở các cấp
- ĐTV và Tổ trưởng tiến hành bàn giao phiếu điều tra và các tài liệu cho BCĐ TĐT DS và nhà ở xã/phường/thị trấn ngay sau khi hoàn thành việc điều tra, chậm nhất ngày 21/04/2009.
- BCĐ cấp xã phải kiểm tra tài liệu, bảo đảm việc sắp xếp tài liệu theo đúng yêu cầu, lập báo cáo sơ bộ và bàn giao cho BCĐ cấp huyện cùng với phiếu và tài liệu điều tra trước ngày 25/04/2009.
- BCĐ cấp huyện, thành phố kiểm tra tài liệu, sắp xếp tài liệu theo đúng yêu cầu, lập báo cáo sơ bộ và bàn giao cho BCĐ cấp tỉnh cùng với phiếu và tài liệu điều tra trước ngày 5/5/2009.
VI. KINH PHÍ ĐIỀU TRA
BCĐ tỉnh cấp kinh phí cho BCĐ huyện, thành phố theo khối lượng công việc, số lượng đơn vị điều tra thực tế và định mức kinh phí cho từng loại công việc phù hợp với chế độ hiện hành. Các BCĐ huyện, thành phố cần quyết toán kịp thời với BCĐ tỉnh để BCĐ tỉnh tổng hợp lập báo cáo quyết toán toàn bộ khi kết thúc Tổng điều tra (sẽ có hướng dẫn cụ thể khi có Thông tư hướng dẫn sử dụng kinh phí của Bộ Tài Chính).
VII. CÔNG TÁC THI ĐUA, KHEN THƯỞNG
Sẽ có hướng dẫn cụ thể riêng.
VIII. TỔ CHỨC CHỈ ĐẠO THỰC HIỆN
Tổng điều tra dân số và nhà ở tiến hành trên phạm vi cả nước có khối lượng công việc rất lớn và phức tạp, có liên quan đến tất cả mọi người dân. Đây là nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn dân, của tất cả các ngành, các cấp. Để đạt được mục đích, yêu cầu đề ra, Ban chỉ đạo TĐTDS và nhà ở tỉnh Cà Mau yêu cầu:
1. BCĐ Tổng điều tra dân số và nhà ở cấp huyện, thành phố và cấp xã/phường/thị trấn cần tranh thủ sự chỉ đạo của cấp ủy Đảng, chính quyền, các đoàn thể chính trị, xã hội và sự tham gia, ủng hộ của nhân dân kể từ lúc chuẩn bị cho đến khi kết thúc cuộc Tổng điều tra. Chống tư tưởng chủ quan, tùy tiện trong việc chấp hành các quy định nghiệp vụ của cuộc Tổng điều tra.
2. Kiện toàn BCĐ các cấp, tổ chức bộ máy có hiệu lực từ tỉnh đến cơ sở. Phải lựa chọn và huấn luyện tốt đội ngũ cán bộ điều tra và cán bộ kiểm tra giám sát của các cấp, làm tốt công tác tuyên truyền và công tác chuẩn bị cho cuộc Tổng điều tra.
3. Ban chỉ đạo TĐTDS và nhà ở các cấp cần thường xuyên kiểm tra, đôn đốc nhằm đảm bảo các công việc của mỗi bước công tác đều được thực hiện đúng phương pháp, đúng quy trình và kế hoạch. Khi phát hiện các trường hợp vướng mắc hoặc sai sót phát sinh phải báo cáo ngay lên BCĐ cấp trên trực tiếp để giải quyết kịp thời và thống nhất.
4. Công tác kiểm tra giám sát phải được tiến hành thường xuyên; thông qua tự kiểm tra của ĐTV, kiểm tra của tổ trưởng và kiểm tra của BCĐ cấp trên nhằm nâng cao chất lượng điều tra. Việc kiểm tra giám sát của cấp trên tập trung vào 4 hoạt động quan trọng sau :
(1) Vẽ sơ đồ và lập bảng kê ;
(2) Tập huấn nghiệp vụ ;
(3) Điều tra thu thập thông tin tại địa bàn ;
(4) Kiểm tra và ghi mã số phiếu điều tra.
BCĐ Trung ương sẽ quy định chi tiết công tác kiểm tra giám sát đối với các hoạt động này trong các tài liệu hướng dẫn nghiệp vụ liên quan.
5. BCĐ các cấp cần phải nghiên cứu kỹ các văn bản, kịp thời ban hành văn bản hướng dẫn chi tiết để triển khai thực hiện tốt cuộc Tổng điều tra trên địa phương mình, không được lồng ghép các cuộc điều tra khác vào cùng thời gian với Tổng điều tra này.
Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009 là cuộc Tổng điều tra rất quan trọng, thực hiện trên phạm vi toàn tỉnh, liên quan đến nhiều đối tượng, đơn vị khác nhau. Vì vậy, Ban chỉ đạo Tổng điều tra các cấp cần thực hiện đúng phương án, kế hoạch, các qui trình áp dụng cho tổng điều tra; chỉ đạo thực hiện từng bước theo đúng tiến độ, yêu cầu của BCĐ tỉnh, đảm bảo thực hiện thành công cuộc Tổng điều tra.
|
Nơi nhận:
- BCĐ Tổng điều tra TW (b/cáo)
- Thành viên BCĐ tỉnh
- BCĐ các huyện, TP
- Lưu BCĐ
|
TM. TRƯỞNG BAN
PHÓ TRƯỞNG BAN
(Đã ký)
Nguyễn Văn Bé
|